VNĐ được dự đoán mạnh dần lên trong nửa cuối năm 2024
- Người viết: Laban Capital lúc
- Tin tức đầu tư
- - 0 Bình luận
Trong bố cảnh kinh tế thế giới đang có nhiều biến động, đặc biệt với sự suy giảm của đồng USD và các quyết định chính sách tiền tệ quốc tế, VNĐ được dự báo sẽ mạnh lên trong nửa cuối năm 2024. Các yếu tố hỗ trợ chính bao gồm chính sách tiền tệ linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), dự báo cắt giảm lãi suất vào tháng 9 và tháng 12 của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), góp phần làm giảm giá trị USD và hỗ trợ sự tăng giá của VNĐ.
Nhiều dự báo cho thấy Feb sẽ cắt giảm lãi suất đồng USD vào tháng 9 và tháng 12 năm 2024, mỗi lần giảm 0,25 điểm phần trăm góp phần làm suy yếu đồng USD, từ đó tạo điều kiện cho VNĐ tăng giá. Đồng thời, việc cắt giảm của Feb còn có khả năng làm giảm áp lực lạm phát trên toàn cầu, góp phần ổn định tỷ giá hối đoái.
Bên cạnh đó, từ đầu năm 2024, tỷ giá các đồng tiền lớn trên thế giới như Yên Nhật, Won Hàn Quốc, và các đồng tiền Đông Nam Á đã suy yếu đáng kể so với USD, lần lượt mất giá 14%, 7% và 6% so với USD. Tuy nhiên, VNĐ lại được dự báo sẽ ổn định, thậm chí có thể tăng giá nhẹ so với đầu năm. Chính sách tiền tệ linh hoạt của NHNN, bao gồm việc điều chỉnh lãi suất điều hành, đã giúp duy trì sự ổn định của tỷ giá hối đoái, đồng thời giảm áp lực lạm phát. Lãi suất điều hành của NHNN trong vài tháng gần đây đã giảm. Lãi suất OMO từ 4,5%/năm đã giảm xuống 4,25%/năm và hiện đang ở mức 4%/năm. Tuy nhiên, lãi suất thị trường liên ngân hàng, đặc biệt là lãi suất qua đêm vẫn ở mức cao, trên dứoi 4%/năm cho thấy về cơ bản, chính sách tiền tệ Việt Nam vẫn theo hướng linh hoạt và kiểm soát làm phát (thắt chặt vừa phải).
Sự ổn định và tiềm năng tăng giá của VNĐ trong nửa cuối năm 2024 tạo ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực xuất nhập khẩu. Việc giảm giá hàng nhập khẩu sẽ giúp giảm chi phí nguyên vật liệu, từ đó giảm áp lực lên lạm phát và giúp tăng sức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Ngoài ra, thách thức về thanh khoản cũng là một trong những vấn đề lớn mà các doanh nghiệp Việt Nam đang đối mặt. Sự trì trệ trong đầu tư tư nhân và tiêu dùng nội địa tiếp tục ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trung và dài hạn. Để thúc đẩy sự phát triển này, cần có sự chú trọng và ba lĩnh vực chính: xuất khẩu nông sản, bất động sản và cho vay tiêu dùng.
Xuất khẩu nông sản của Việt Nam đang có nhiều triển vọng, đặc biệt ở các thị trường như Trung Quốc, Ấn Độ và Mỹ. Cụ thể, tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2024 dự báo có thể đạt được 400 tỷ USD; trong đó, khu vực FDI chiếm tới 280 tỷ USD. Các doanh nghiệp nội địa chỉ còn chiếm khoảng 120 tỷ USD trong tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Tuy nhiên, xúc tiến thương mại cho nông sản vẫn còn yếu, kém xa xúc tiến thương mại của Thái Lan, đòi hỏi sự cải thiện để tận dụng các cơ hội từ thị trường quốc tế.
Bất động sản chiếm một lượng lớn vốn trung và dài hạn của nền kinh tế. Theo ước tính, tín dụng và trái phiếu doanh nghiệp dành cho bất động sản có thể chiếm tới 30% hoặc cao hơn trong tổng tín dụng. Ngành bất động sản có thể tạo ra GDP lớn hơn nheiefu so với con số thông kê gần đây là khoản 20% GDP, chưa kể mức độ lan toả vào các ngành khác, như xây dựng, vật liệu xây dựng, đồ điện gia dụng, đồ nội thất, ngoại thất...Đây là khu vực cần giải quyết những ách tắc pháp lý hiện tại và thúc đẩy sự phát triển với sự điều chỉnh chính sách, đặc biệt là các thủ tục pháp lý liên quan đến các dự án lớn tại Hà Nội và TP. HCM.
Sắp tới, khi các văn bản hướng dẫn 3 sắc luật có liên quan đến thị trường bất động sản được ban hành, đây có thể là một cơ hội phục hồi khá nhanh và thu hút vốn khá tin cậy, vì có tài sản phẩm bảo và có nhu cầu đâu ra rất lớn, đặc biệt là phân khúc trung bình và giá rẻ, nhà ở xã hội...
Cho vay tiêu dùng là lĩnh vực có tiềm năng lớn để phát triển. Tỷ lệ vay tiêu dùng ở Việt Nam đang rất thấp so với nhiều nước do khả năng xếp hạng, đánh giá rủi ro khách hàng trong lĩnh vực này còn hạn chế nhưng hiện nay hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia đang được xây dựng và dần hoàn thiện. Mở rộng cho vay tiêu dùng không chỉ thúc đẩy sản xuất trong nước mà còn là nền tảng cho tăng trưởng kinh tế trong tương lai.
Viết bình luận